Bệnh tích protein phế nang

Bệnh tích protein phế nang (Pulmonary alveolar proteinosis – PAP) là một bệnh phổi hiếm gặp liên quan đến sự tích tụ một hoạt chất bề mặt trong phế nang do độ thanh thải của chất này giảm. Tình trạng này có thể là bẩm sinh, thứ phát hoặc tự miễn dịch. PAP tự miễn là cơ chế sinh lý gây bệnh phổ biến nhất, chiếm 90% các trường hợp được ghi nhận.

Tìm hiểu chung

Bệnh tích protein phế nang là gì?

Bệnh tích protein phế nang phổi (PAP) được mô tả lần đầu tiên vào năm 1958 bởi Samuel H. Rosen. Kể từ thời điểm đó, sự hiểu biết của các bác sĩ lâm sàng về căn bệnh hiếm gặp này đã được cải thiện đáng kể.

Các báo cáo ban đầu về bệnh này mô tả bệnh là một tình trạng suy hô hấp thứ phát do sản xuất quá mức một protein hoạt động bề mặt trong phế nang. Sự gia tăng tích tụ chất này được cho là hậu quả của việc hít phải các chất kích thích từ môi trường hoặc tác nhân lây nhiễm khác. Ban đầu bệnh này được gọi là PAP mắc phải hoặc vô căn.

Hiện tại, các bác sĩ chỉ ra rằng có 3 con đường riêng biệt dẫn đến sự tích lũy protein hoạt động bề mặt trong phế nang là bẩm sinh, thứ phát và tự miễn dịch. Cả 3 con đường này dẫn đến giảm độ thanh thải của chất hoạt động bề mặt này thay vì tăng sản xuất chúng.

PAP tự miễn là cơ chế sinh lý bệnh phổ biến nhất, chiếm 90% các trường hợp được ghi nhận. PAP tự miễn dịch được gây ra do kháng thể immunoglobulin (IgG) – kháng thể kháng kích thích tố đại thực bào kháng bạch cầu hạt (anti-GM-CSF), làm giảm chức năng của đại thực bào phế nang.

PAP thứ phát tuy thiếu kháng thể kháng GM-CSF nhưng nguyên nhân gây bệnh đã làm giảm chức năng của các đại thực bào thứ phát như các khối u ác tính về huyết học (hội chứng loạn sản tủy, bệnh bạch cầu dòng tủy mãn tính) hoặc các bệnh suy giảm miễn dịch nguyên phát (suy giảm miễn dịch thông thường, hội chứng DiGeorge và trong một số bệnh khác) nên chức năng của đại thực bào phế nang cũng giảm.

PAP bẩm sinh ít phổ biến nhất và là kết quả của sự đột biến gen trong protein thụ thể GM-CSF hoặc protein chất hoạt động bề mặt.

Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh tích protein phế nang

Biểu hiện lâm sàng của PAP thay đổi từ nhẹ nhàng đến đột ngột nặng nề và các triệu chứng thường không đặc hiệu.

Khó thở là triệu chứng phổ biến nhất của PAP. Hầu hết những người mắc bệnh đều khó thở khi tập thể dục, làm việc nặng, nhưng một số người cũng bị khó thở khi nghỉ ngơi. Các triệu chứng khác của PAP bao gồm:

  • Đau ngực;
  • Ho, đôi khi có máu hoặc đàm;
  • Cyanosis (da và móng tay hơi xanh);
  • Mệt mỏi;
  • Sốt;
  • Viêm phổi;
  • Ngón tay dùi trống.

Bệnh nhân có thể không có triệu chứng tại thời điểm xuất hiện (tình trạng này chiếm khoảng 33%).

Tác động của bệnh tích protein phế nang đối với sức khỏe

PAP có thể gây suy hô hấp đe dọa tính mạng trong những trường hợp nặng. Tuy nhiên, diễn biến của bệnh có thể tự thuyên giảm tự nhiên đến ổn định hoặc ngược lại, diễn tiến đến tử vong do suy hô hấp hoặc nhiễm trùng thứ phát.

Biến chứng có thể gặp khi mắc bệnh tích protein phế nang

Bệnh nhân mắc PAP có nguy cơ mắc nhiễm trùng cơ hội cao hơn (khoảng 5% bệnh nhân PAP bị nhiễm trùng cơ hội). Phổi là vị trí nhiễm trùng phổ biến nhất, mặc dù nhiễm trùng ngoài phổi chiếm khoảng 32% nhiễm trùng cơ hội ở bệnh nhân PAP.

Nocardia và Mycobacterium tuberculosis là 2 nguyên nhân nhiễm trùng cơ hội được báo cáo phổ biến nhất trong PAP. Nguyên nhân nhiễm nấm được ghi nhận bao gồm Histoplasma, Aspergillus, Cryptococcus và Blastomyces. Các nguyên nhân nhiễm trùng khác được ghi nhận bao gồm Acinetobacter, Coccidiodies, Mucorales và Streptomyces.

Khi nào cần gặp bác sĩ?

Khi có bất kỳ triệu chứng nào kể trên, bạn đều cần đến gặp bác sĩ ngay.

Nguyên nhân

Nguyên nhân dẫn đến bệnh tích protein phế nang

Miễn dịch

PAP tự miễn dịch là hậu quả trực tiếp liên quan đến kháng thể chống lại GM-CSF. Đã có suy đoán rằng khói thuốc lá hoặc các bệnh truyền nhiễm kích thích sự phát triển của các tự kháng thể này do tỷ lệ hút thuốc và nhiễm trùng cao ở bệnh nhân PAP. Tuy nhiên, không có mối liên hệ nhân quả nào được tìm thấy giữa khói thuốc lá và PAP tự miễn dịch. Ngoài ra, không có mối liên hệ nhân quả nào được tìm thấy giữa nhiễm trùng và PAP tự miễn dịch.

Giảm số lượng quần thể đại thực bào trong PAP thứ cấp được gây ra bởi bất kỳ bệnh nào làm giảm số lượng đại thực bào phế nang. Trong một phân tích hồi cứu, 34.1% PAP thứ phát có liên quan đến hội chứng loạn sản tủy và 15.2% có liên quan đến bệnh bạch cầu dòng tủy mãn tính, bệnh bạch cầu dòng tủy cấp.

Hóa chất

PAP thứ cấp cũng có liên quan đến việc hít phải một số chất ô nhiễm từ môi trường. Những chất từ môi trường này bao gồm silica, talc, xi măng, cao lanh, nhôm, titan, indium và cellulose. Một số nghiên cứu trên động vật, PAP đã được chẩn đoán sau khi những con vật này hít phải nhôm, sợi thủy tinh, indi, niken, thạch anh, silica và titan. Phân tích ở Pháp về bệnh nhân PAP cho thấy có khoảng 39% trường hợp mắc bệnh đã tiếp xúc với môi trường xi măng, bụi ngũ cốc, đồng, epoxy, sơn, polyvinyl clorua, silica, hàn, bụi gỗ, zirconi hoặc khói.

Di truyền

Rối loạn chức năng di truyền ở một trong nhiều protein chịu trách nhiệm điều hòa chất hoạt động bề mặt gây ra PAP bẩm sinh. Điều này bao gồm các đột biến trong tiểu đơn vị alpha hoặc tiểu đơn vị beta của thụ thể GM-CSF, protein hoạt động bề mặt B, protein hoạt động bề mặt C, đơn vị liên kết ATP3 hoặc bệnh không dung nạp protein lysine.

Nguy cơ

Những ai có nguy cơ mắc phải bệnh tích protein phế nang?

PAP là một bệnh phổi hiếm gặp, tỷ lệ hiện mắc đã được báo cáo từ 3.7 đến 40 trường hợp trên 1 triệu người tùy theo từng quốc gia. PAP tự miễn chiếm khoảng 90% các trường hợp, trong khi có khoảng 4% là PAP thứ phát, khoảng 1% là PAP bẩm sinh và bệnh giống PAP không xác định chiếm 5% còn lại. Hút thuốc được báo cáo có trong khoảng từ 53% đến 85% bệnh nhân PAP.

Trong PAP tự miễn, nam giới thường bị ảnh hưởng nhiều hơn nữ giới với tỷ lệ 2:1. Độ tuổi trung bình tại thời điểm chẩn đoán được báo cáo là từ 39 đến 51 tuổi.

PAP thứ phát đã được ghi nhận với độ tuổi trung bình trẻ hơn một chút tại thời điểm chẩn đoán là từ khoảng 37 tuổi đến 45 tuổi. Tỷ lệ giới tính cũng khác nhau ở PAP thứ phát với tỷ lệ nam/nữ là 1.2:1.

Yếu tố làm tăng nguy cơ mắc phải bệnh tích protein phế nang

Các yếu tố nguy cơ mắc bệnh là khói thuốc lá và các hóa chất từ môi trường.

Phương Pháp Chẩn Đoán & Điều Trị

Phương pháp xét nghiệm và chẩn đoán bệnh tích protein phế nang

Do biểu hiện lâm sàng của PAP không đặc hiệu nên việc chẩn đoán bệnh này đòi hỏi phải đánh giá huyết thanh, X-quang và nội soi phế quản với kết quả phù hợp bệnh lý.

Chụp X-quang

Chụp X-quang ngực có thể cho thấy hình mờ phế nang hai bên phân bố quanh rốn phổi và đáy mà không có khí phế quản. Hiện tượng này đôi khi được gọi là “phân bố cánh dơi hay cánh bướm” hoặc có thể giống với phù phổi mà không có tim to hoặc tràn dịch màng phổi.

Dấu ấn sinh học

Một số dấu ấn sinh học đã được nghiên cứu trong PAP bao gồm: Nồng độ protein A, B và D của chất hoạt động bề mặt, cytokeratin 19, kháng nguyên carcinoembryonic trong huyết thanh, lactate dehydrogenase huyết thanh, nồng độ GM-CSF, kháng thể kháng GM-CSF và KL-6. Lactate dehydrogenase huyết thanh tăng ở 50% bệnh nhân PAP và kháng nguyên carcinoembryonic huyết thanh cũng thường tăng.

Nhìn chung, những dấu ấn sinh học này chưa được chứng minh là nhạy cảm hoặc đặc hiệu để chẩn đoán PAP. Xét nghiệm tìm kháng thể IgG kháng GM-CSF là dấu ấn sinh học duy nhất có liên quan đến lâm sàng cho đến nay. Việc phát hiện các kháng thể này được thực hiện thông qua xét nghiệm miễn dịch liên kết với enzyme (ELISA). Kết quả này là tiêu chuẩn vàng cho chẩn đoán và đã được công nhận ở nhiều quốc gia.

Kiểm tra chức năng phổi

Xét nghiệm chức năng phổi không cần thiết để chẩn đoán và cũng không đặc hiệu cho PAP. Đo phế dung có thể bình thường ở 30% bệnh nhân mắc PAP và có thể xuất hiện do bệnh phổi tắc nghẽn và bệnh phổi hạn chế ở những người hút thuốc.

Nội soi phế quản

Khi nghi ngờ PAP, nội soi phế quản kết hợp với rửa phế quản phế nang là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán. Nước rửa phế quản phế nang thường có màu trắng đục. Kiểm tra tế bào học BALF sẽ phát hiện các đại thực bào bọt lớn với hình nhuộm PAS dương tính. Tế bào BALF thường chiếm ưu thế bởi tế bào lympho. Bởi vì PAP thứ phát có thể liên quan đến nhiễm trùng cơ hội nên kết quả có thể có sự hiện diện của một hỗn hợp nhiều loại tế bào, trong đó có cả vi khuẩn nên khả năng chẩn đoán PAP bị bỏ sót cũng khá cao.

Sinh thiết phổi

Sinh thiết không cần thiết để chẩn đoán PAP nhưng có thể hữu ích trong một vài trường hợp khó chẩn đoán phân biệt với một bệnh khác. Sinh thiết phổi mở hoặc phẫu thuật lồng ngực có video hỗ trợ hiếm khi được thực hiện nhưng sẽ cho thấy vật liệu lipoprotein dương tính với PAS.

Phương pháp điều trị bệnh tích protein phế nang hiệu quả

Rửa phổi toàn bộ (WLL)

Phương pháp điều trị và chăm sóc hiện tại đối với PAP tự miễn dịch là rửa toàn bộ phổi (WLL). Quyết định điều trị dựa trên các dấu hiệu trao đổi khí kém hiệu quả và các triệu chứng suy hô hấp (khó thở, tím tái,…).

Rửa phổi toàn bộ nên được xem xét ở những bệnh nhân khó thở khi nghỉ ngơi, PaO2 khi nghỉ ngơi dưới 65 mmHg, chênh lệch nồng độ oxy phế nang – động mạch khi nghỉ ngơi lớn hơn 40 mmHg, hoặc độ bão hòa oxy trong bài kiểm tra đi bộ 6 phút thấp.

WLL được thực hiện lần đầu tiên vào năm 1961. Ngày nay, thủ thuật này được thực hiện khi gây mê toàn thân với ống nội khí quản hai nòng. Các nghiên cứu hồi cứu về hiệu quả điều trị của WLL đã cho thấy một số thông số được cải thiện sau khi điều trị. Cải thiện về triệu chứng xảy ra trong 85% trường hợp. Kết quả chụp X-quang phổi cũng được cải thiện.

Thời gian hưởng lợi trung bình sau WLL là 15 tháng. Một đánh giá cho thấy 70% bệnh nhân PAP cần trải qua WLL trong vòng 5 năm sau khi chẩn đoán và trung bình bệnh nhân cần hai lần rửa phổi toàn bộ thì tình trạng bệnh tốt hơn.

Bệnh nhân khó thở nhẹ hoặc không có triệu chứng có thể cải thiện tốt nếu được chăm sóc tốt kết hợp theo dõi các xét nghiệm chức năng phổi và chụp phim ngực thường xuyên mà không cần điều trị rửa phế quản phế nang toàn bộ.

Liệu pháp thay thế GM-CSF

Các thử nghiệm lâm sàng về liệu pháp thay thế GM-CSF đã được thực hiện vào cuối những năm 1990. Sự cải thiện bệnh sau khi tiêm GM-CSF chậm hơn nhiều so với WLL tiêu chuẩn và do đó, liệu pháp này không còn được ưa chuộng. Những liệu pháp này an toàn và cải thiện ở một số trường hợp PAP tự miễn dịch, tuy nhiên, chúng không hiệu quả trong PAP bẩm sinh và hiệu quả ghi nhận kém hơn khi điều trị bằng phương pháp WLL. Đây hiện được coi là liệu pháp thay thế cho WLL nếu WLL không thể thực hiện.

Liệu pháp miễn dịch

Corticosteroid toàn thân đã được thử nghiệm trên bệnh nhân PAP tự miễn nhưng không hiệu quả mà còn làm tăng nguy cơ nhiễm trùng phổi. Liệu pháp miễn dịch, Rituximab và phương pháp lọc huyết tương đều được coi là liệu pháp thay thế cho những bệnh nhân PAP kháng trị với WLL.

PAP thứ phát

Liệu pháp duy nhất đã được chứng minh đối với PAP thứ phát là điều trị bệnh tiềm ẩn gây ra bệnh PAP. WLL dường như không mang lại lợi ích cho nhóm đối tượng này vì chỉ có 2 trong số 14 bệnh nhân được nghiên cứu có cải thiện triệu chứng trên lâm sàng. Ghép tế bào gốc tạo máu là một lựa chọn điều trị tiềm năng được ghi nhận ở hai trường hợp được báo cáo là giải quyết hoàn toàn PAP thứ phát sau ghép tế bào gốc.

PAP bẩm sinh

WLL có thể có lợi cho bệnh nhân mắc PAP bẩm sinh nhưng không có tác dụng chữa khỏi hoàn toàn. Các liệu pháp thay thế GM-CSF chưa cho thấy hiệu quả. Corticosteroid và các thuốc không chứa steroid như azathioprine đã được sử dụng ở một số trung tâm thử nghiệm với kết quả có lợi hay bất lợi rất khác nhau. Ít nhất một bệnh nhân đã được ghép tế bào gốc tạo máu thành công và chữa khỏi bệnh PAP bẩm sinh của họ, nhưng liệu pháp này có nguy cơ mắc bệnh thải ghép và nhiễm trùng cơ hội.

Chế Độ Sinh Hoạt & Phòng Ngừa

Những thói quen sinh hoạt có thể giúp bạn hạn chế diễn tiến của bệnh tích protein phế nang

Chế độ sinh hoạt: Bệnh nhân nên được khuyên ngừng hút thuốc, tập luyện thể dục mỗi ngày để giữ một cơ thể khỏe mạnh.

Chế độ dinh dưỡng: Một chế độ ăn lành mạnh với nhiều đạm thực vật và rau xanh giúp cơ thể có sức đề kháng tốt.

Phương pháp phòng ngừa bệnh tích protein phế nang hiệu quả

Có nhiều loại bệnh protein phế nang phổi khác nhau. Không thể ngăn ngừa PAP bẩm sinh hoặc PAP liên quan đến miễn dịch. Nhưng tránh chất độc trong môi trường bằng cách đeo mặt nạ phòng độc hoặc khẩu trang vừa vặn nếu bạn đang làm việc trong môi trường độc hại có thể giúp ngăn ngừa PAP thứ cấp. Một lưu ý khi đeo khẩu trang là hãy chắc chắn rằng khẩu trang che kín miệng và mũi của bạn.

Nguồn tham khảo

  1. Pulmonary Alveolar Proteinosis: https://www.msdmanuals.com/professional/pulmonary-disorders/interstitial-lung-diseases/pulmonary-alveolar-proteinosis
  2. Pulmonary Alveolar Proteinosis: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK482308/
  3. What Is Pulmonary Alveolar Proteinosis?: https://www.webmd.com/lung/what-is-pulmonary-alveolar-proteinosis
  4. Pulmonary Alveolar Proteinosis: https://emedicine.medscape.com/article/300615-overview
  5. Pulmonary alveolar proteinosis: https://err.ersjournals.com/content/20/120/98
image chat

Xem trực tiếp XoilacTV hôm nay