Bệnh võng mạc trẻ sinh non

Bệnh võng mạc trẻ sinh non là một tình trạng do sự phát triển bất thường của mạch máu võng mạc ở trẻ sinh non, đặc biệt ở trẻ bị nhẹ cân, thường dẫn đến mù lòa. Chẩn đoán bằng việc soi đáy mắt. Điều trị bệnh mức độ nặng có thể laser quang đông (laser photocoagulation) hoặc kháng thể nhân tạo (bevacizumab), ngoài ra còn có các phương pháp điều trị khác là điều trị trực tiếp các biến chứng như bong võng mạc.

Tìm hiểu chung

Bệnh võng mạc trẻ sinh non là gì? 

Các mạch máu trong võng mạc bắt đầu phát triển trong khoảng giữa của thai kỳ, nhưng võng mạc không phát triển hoàn toàn cho đến khi đủ tháng. Bệnh võng mạc trẻ sinh non (ROP) xảy ra khi các mạch máu này phát triển bất thường, tạo thành một dải mô giữa võng mạc trung tâm có mạch máu và võng mạc ngoại vi không có mạch máu. Nếu bệnh tiến triển nặng, các mạch máu này xâm lấn vào thủy tinh thể. Đôi khi toàn bộ mạch máu của mắt bị ứ huyết (bệnh võng mạc cộng – plus disease).

Triệu chứng

Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh võng mạc trẻ sinh non

Bệnh diễn tiến theo các giai đoạn, thường có 5 giai đoạn như sau:

  • Giai đoạn 1: Xuất hiện đường giới hạn mỏng, ngăn giữa võng mạc có mạch máu và vùng võng mạc không mạch máu.
  • Giai đoạn 2: Đường giới hạn này rộng ra và dày lên tạo thành gờ.
  • Giai đoạn 3: Tân mạch từ gờ phát triển ra ngoài võng mạc, có thể xuất huyết mạch máu.
  • Giai đoạn 4: Các mô sẹo và mạch máu bất thường làm co kéo võng mạc, gây bong võng mạc khu trú.
  • Giải đoạn 5: Bong võng mạc hoàn toàn.

Khi bệnh võng mạc trẻ sơ sinh diễn tiến nặng sẽ có 2 loại bệnh sau:

Bệnh võng mạc cộng (plus disease) là hiện tượng các mạch máu võng mạc giãn và ngoằn ngoèo khu vực quanh gai thị, ít nhất là 2/4 mắt.

Bệnh võng mạc trẻ sinh nong hung hãn cực sau (aggressive posterior retinopathy of prematurity – AP-ROP).

Tác động của bệnh võng mạc trẻ sinh non đối với sức khỏe

Trẻ bị bệnh võng mạc khi sinh non khi đã được điều trị lành bệnh có tỷ lệ cận thị, lác mắt và nhược thị khá cao.

Biến chứng có thể gặp khi mắc bệnh

Bệnh võng mạc trẻ sinh non nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời có thể dẫn đến bong võng mạc, mất thị lực trong vòng 2 – 12 tháng sau sinh.

Trẻ bị bệnh võng mạc khi sinh non mức độ trung bình, khi chữa lành có khả năng để lại sẹo, tăng nguy cơ bong võng mạc. Đôi khi dẫn đến việc tăng nhãn áp và đục thủy tinh thể.

Khi nào cần gặp bác sĩ?

Những thay đổi về mạch máu khó có thể nhận thấy bằng mắt thường, trẻ cần được khám mắt thường xuyên để phát hiện các bất thường này càng sớm càng tốt (nhất là đối với các trẻ sinh thiếu tháng, nhẹ cân, phải thở oxy kéo dài, có các bệnh liên quan tới mắt). Khi trẻ gặp phải các triệu chứng trên hay có chuyện động mắt bất thường, mắt lác, cận thị nặng, đồng tử màu trắng nên được thăm khám ngay lập tức.

Nguyên nhân

Nguyên nhân dẫn đến bệnh võng mạc trẻ sinh non

Nguyên nhân gây bệnh chưa được xác định rõ ràng nhưng thường xảy ra ở những trẻ sinh thiếu tháng, nhẹ cân, thở oxy, hệ thống mạch máu võng mạc ngừng phát triển, việc thiếu oxy dẫn đến kích thích tiết chất tăng sinh tân mạch nội nhãn (VEGF) tạo thành mạch máu mới vào pha lê thể. Fibroblast sinh mô sẹo dạng sợi, gây bong võng mạc dẫn đến mù vĩnh viễn.

Nguy cơ

Những trẻ có nguy cơ mắc phải?

  • Trẻ sinh non và nhẹ cân;
  • Trẻ phải thở oxy;
  • Có các bệnh liên quan đến mắt.

Yếu tố làm tăng nguy cơ mắc phải

Một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh võng mạc trẻ sinh non, bao gồm:

  • Tuổi thai và cân nặng lúc sinh thấp.
  • Mắc các bệnh như xuất huyết nội sọ, bại não, co giật, có nhiều cơn ngưng thở, nhịp chậm,…

Phương Pháp Chẩn Đoán & Điều Trị

Phương pháp xét nghiệm và chẩn đoán bệnh

Chẩn đoán bệnh võng mạc trẻ sinh non bằng soi đáy mắt. Đối với trường hợp nhẹ, có thể thấy đường ranh giới và dải mô, trường hợp nặng thấy được việc tăng sinh mạch máu võng mạc.

Cần tiến hành khám sàng lọc bệnh võng mạc trẻ sinh non ở các trẻ có tuổi thai ≤ 33 tuần, cân nặng ≤ 1,8kg. Đối với trẻ có tuổi thai > 33 tuần, cân nặng > 1,8kg nhưng lại bị suy hô hấp. Thở oxy kéo dài, viêm phổi, nhiễm trùng, thiếu máu,.. cũng cần được thăm khám mắt.

Phương pháp điều trị hiệu quả

  • Laser quang đông;
  • Bevacizumab.

Đối với trường hợp bệnh võng mạc trẻ sinh non mức độ nặng, dùng laser quang đông để cắt bỏ vùng võng mạc vô mạch ở ngoại vi để làm giảm việc tạo nếp gấp võng mạc, bong võng mạc. Nếu trẻ bị bong võng mạc, cân nhắc phẫu thuật thắt đai củng mạc (scleral buckling) hoặc cắt pha lê thể (vitrectomy).

Trẻ bị sẹo võng mạc cần được kiểm tra ít nhất 1 lần/năm. Điều trị tật khúc xạ và nhược thị ngay trong năm đầu tiên sẽ bảo vệ được tối đa thị lực của trẻ. Trẻ bị bong võng mạc hoàn toàn cần được kiểm tra theo dõi bệnh tăng nhãn áp thứ phát.

Bevacizumab là một kháng thể đơn dòng, là một anti-VEGF (chất chống tăng sinh tân mạch nội nhãn) có thể ngăn sự tiến triển của bệnh. So với phương pháp laser quang động, tiêm bevacizumab có tỷ lệ tái phát thấp, ít gây bất thường cấu trúc.

Khi bệnh tái phát (sau vài tháng), cần kiểm tra mắt dài hạn. Tiêm bevacizumab cần quan tâm đến sự hấp thu toàn thân. Nguy cơ nhiễm trùng, liều tối ưu cho bệnh nhân và thời gian theo dõi dài. Nên đây vẫn là phương pháp thứ 2, sau laser quang đông. Hoặc có thể kết hợp cả 2 khi điều trị bệnh nặng.

Chế Độ Sinh Hoạt & Phòng Ngừa

Những thói quen sinh hoạt có thể giúp bạn hạn chế diễn tiến

Chế độ sinh hoạt:

  • Theo dõi sức khỏe định kỳ ở trẻ;
  • Tiêm chủng đầy đủ;
  • Khám sàng lọc khiếm thính.

Chế độ dinh dưỡng:

  • Đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng đầy đủ và thích hợp cho trẻ sinh non.

Phương pháp phòng ngừa hiệu quả

Để phòng ngừa bệnh hiệu quả, bạn có thể tham khảo một số gợi ý dưới đây:

  • Đối với trẻ sinh non, cân nặng < 2,5kg. Khoảng 3 – 4 tuần sau sinh cần chủ động đưa bé đến bệnh viện chuyên khoa mắt để thăm khám.
  • Chăm sóc sức khỏe người mẹ, dinh dưỡng đầy đủ để tránh sinh non. Thăm khái thai định kỳ giúp ngăn ngừa sinh non.
image chat

Xem trực tiếp XoilacTV hôm nay