Những điều cần biết về Adenovirus

NHIỄM ADENOVIRUS LÀ GÌ? Adenovirus có ít nhất 90 loại virus riêng biệt và tất cả nhóm tuổi đều có thể nhiễm loại virus này. Người bệnh sau khi nhiễm adenovirus sẽ có thời gian ủ bệnh trước khi các triệu chứng đầu tiên xuất hiện là từ 5 – 6 ngày. Cơ thể nhiễm adenovirus khi phơi […]

NHIỄM ADENOVIRUS LÀ GÌ?

Adenovirus có ít nhất 90 loại virus riêng biệt và tất cả nhóm tuổi đều có thể nhiễm loại virus này. Người bệnh sau khi nhiễm adenovirus sẽ có thời gian ủ bệnh trước khi các triệu chứng đầu tiên xuất hiện là từ 5 – 6 ngày.

Cơ thể nhiễm adenovirus khi phơi nhiễm với người có virus hoặc chạm vào bề mặt hoặc vật dụng có sẵn adenovirus. Các đường nhiễm virus khác là hít phải virus trong những bọt nước trong không khí do người bị nhiễm adenovirus ho hoặc hắt hơi không che tay, tiếp xúc với tay của người đã chạm vào mắt vốn đã bị nhiễm trùng (kết mạc) hoặc mũi hoặc đàm. Adenovirus có thể phát tán qua phân của người bệnh bị tiêu chảy.

Adenovirus có thể sống đến 30 ngày trên các bề mặt trong điều kiện môi trường bình thường. Virus này cũng đã được báo cáo có trong nước không khử clo và gây viêm kết mạc (mắt đỏ) do bơi trong nước này.

KHẢ NĂNG GÂY BỆNH CỦA ADENOVIRUS

Adenovirus có thể gây bệnh ở nhiều cơ quan khác nhau trên cơ thể như đường hô hấp, đường tiêu hoá, mắt…. ở người nhất là trẻ em. Trong số các nhóm virus gây bệnh thì Adenovirus nhóm B là nhóm có khả năng gây bệnh nhiều và hay gặp nhất. Sau khi gây bệnh Adenovirus có thể tồn tại nhiều năm ở hạch hạnh nhân. Một số bệnh lý do Adenovirus gây ra bao gồm:

1. Viêm đường hô hấp

  • Viêm họng cấp: Bệnh này thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ với các biểu hiện như sốt, đau đầu, sưng họng, ho và chảy nước mũi. Tình trạng này có thể kéo dài nhiều ngày từ 7 đến 14 ngày và có thể lây lan nhanh trở thành dịch. Chẩn đoán dựa vào các triệu chứng thường khó phân biệt với các nhiễm virus khác.
  • Viêm họng kết mạc: Các triệu chứng giống viêm họng do Adenovirus nhưng kèm thêm viêm kết mạc biểu hiện kết mạc mắt đỏ, thường không đau, chảy dịch trong. Tình trạng này thường lây thành dịch nhất là vào màu hè, có thể lây qua đường hô hấp hoặc trẻ tiếp xúc với nguồn lây bệnh khi đi bơi.
  • Viêm đường hô hấp cấp: Biểu hiện đau họng, sưng họng, hạch cổ sưng đau, sốt có thể cao đến 39 độ C, ho. Bệnh diễn biến cấp tính, khỏi nhanh sau 3 – 4 ngày, gặp ở cả trẻ em và người lớn. Các type gây bệnh là 4, 7.
  • Viêm phổi: Chủ yếu là do type 3, 4, 7 và 14 gây ra, chiếm tỷ lệ 10% các trường hợp viêm phổi cấp ở trẻ nhỏ. Biểu hiện bệnh xuất hiện đột ngột với sốt cao 39 độ C, ho, chảy nước mũi và các dấu hiệu tổn thương ở phổi, các tổn thương này có thể lan rộng, để lại di chứng và nghiêm trọng hơn là có thể gây tử vong. Viêm phổi do Adenovirus có những biến chứng nguy hiểm và có thể gây tử vong với tỷ lệ tử vong 8- 10% khi mắc bệnh.

2. Viêm kết mạc mắt

Viêm kết mạc hay còn gọi là đau mắt đỏ, bệnh hay gây thành dịch vào mùa hè do dễ lây qua nước ở bể bơi. Biểu hiện bệnh viêm cấp tính kết giác mạc, kết mạc mắt đỏ, có thể một hoặc cả 2 bên, chảy dịch trong, dễ bị bội nhiễm vi khuẩn nếu không kiểm soát và can thiệp kịp thời.

3. Bệnh viêm dạ dày, ruột

Một số type Adenovirus một tác nhân virus thường gặp trong bệnh viêm dạ dày, ruột cấp tính không do vi khuẩn. Viêm dạ dày ruột do Adenovirus chiếm vị trí thứ 2 sau Rotavirus trong bệnh tiêu chảy do tác nhân virus ở trẻ nhỏ. Người bệnh có biểu hiện đi ngoài nhiều nước kéo dài khoảng 7 ngày, có kèm theo sốt, nôn, buồn nôn, các dấu hiệu viêm đường hô hấp và viêm kết mạc. Virus gây bệnh tại đường tiêu hóa và được đào thải trong phân, đây cũng là nguồn lây chủ yếu cho cộng đồng. Chủ yếu do các typ 40, 41 và 31 gây ra.

4. Các bệnh khác

Virus này còn có thể là nguyên nhân gây viêm bàng quang chảy máu ở trẻ em, nhất là trẻ trai, trong trường hợp này virus thường thấy trong nước tiểu của và các type gây bệnh là type 11, 12. Ở niệu đạo, tử cung cũng xuất hiện virus và đây được coi là bệnh lây qua đường tình dục.

Ngoài ra còn một số nhiễm virus nhưng không có biểu hiện triệu chứng, gọi là thể ẩn, đây là nguồn lây nhiễm quan trọng trong cộng đồng. Những type gây bệnh cho người sau khi điều trị khỏi bệnh thì bệnh nhân có miễn dịch với Adenovirus với hiệu quả cao và kéo dài với cùng type gây bệnh nhưng lại không có khả năng miễn dịch chéo nên bảo vệ nguyên nhân gây bệnh do các type khác.

Virus này rất dễ lây lan cho cộng đồng và đặc biệt, Virus adeno có thể gây ra rất nhiều biến chứng nguy hiểm từ những triệu chứng thông thường, vì vậy khi thấy trẻ em có các dấu hiệu nghi ngờ nhiễm virus cần theo dõi thường xuyên tình trạng sức khỏe và ngay khi có dấu hiệu bất thường cần tới cơ sở y tế để khám và điều trị.

ĐIỀU TRỊ NHIỄM ADENOVIRUS

Nếu người bệnh nhiễm adenovirus nhẹ có thể tự khỏi mà không cần điều trị. Điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng. Các biện pháp chăm sóc hỗ trợ mang lại hiệu quả cao các bệnh có adenovirus gây ra được biết đến là:

  • Giảm tình trạng viêm đau vùng họng bằng súc miệng nước muối, có thể kết hợp với sử dụng thuốc kháng viêm Nonsteroid (Ibuprofen, diclofenac..), alphachymotripsin (alpha-choay) hoặc các thuốc ngậm như: Dorithricin, Strepsils..
  • Giảm tiết dịch mũi, giảm đờm bằng nhỏ mũi bằng nước muối hoặc các thuốc kháng histamin H1 như: Cetirizine, loratadine, diphenhydramin..
  • Hạ sốt giảm đau, giảm nhức mỏi bằng Paracetamol, ibuprofen.
  • Giảm tình trạng khò khè khó thở trong viêm phế quản: salbutamol, albuterol,.
  • Nhỏ nước muối sinh lý trong viêm kết mạc – giác mạc mắt, có thể kết hợp thêm nhỏ kháng sinh khi có bội nhiễm vi khuẩn: Neomycin, tobramycin.
  • Thuốc kháng tiết, trung hòa axit dạ dày trong thể viêm dạ dày cấp.
  • Thuốc giảm co thắt để giảm đau: buscopan, averin citrate và thuốc sát khuẩn đường niệu xanh Methylen (Mistasol Blue) trong thể viêm bàng quang xuất huyết.
  • Cung cấp Vitamin, đặc biệt là vitamin C giúp tăng cường hệ miễn dịch.

Nếu người bệnh nhiễm adenovirus nhẹ có thể tự khỏi mà không cần điều trị. Các biện pháp chăm sóc hỗ trợ mang lại hiệu quả cao các bệnh có adenovirus gây ra được biết đến là:

  • Giảm dịch tiết mũi bằng nước muối và hút.
  • Sử dụng nước muối ưu trương hoặc albuterol để chống nghẹt mũi.

Trường hợp người nhiễm adenovirus có tình trạng bệnh nặng, thậm chí nguy cơ dẫn đến tử vong do bị suy hô hấp, suy giảm hệ miễn dịch, biến chứng tiêu hóa nặng cần được điều trị bằng thuốc kháng adenovirus như cidofovir. Tiếp tục theo dõi xét nghiệm virus trong phòng thí nghiệm để theo dõi đáp ứng điều trị.

CÁC BIỆN PHÁP NGĂN NGỪA NHIỄM ADENOVIRUS

Rửa tay thường xuyên là biện pháp hàng đầu được tư vấn bởi các chuyên gia y tế. Khi tay chưa được rửa sạch cần tránh chạm vào mắt, mũi, miệng. Thường xuyên làm sạch bề mặt các vật dụng hay dùng tới bằng các sản phẩm tẩy rửa. Trong mùa dịch, người bị nhiễm virus cần được đưa đến bệnh viện để được điều trị và cách ly hoặc nếu triệu chứng nhẹ thì nên ở nhà, không đến chỗ đông người, tránh lây lan virus ra cộng đồng.

Kiểm tra tình trạng tiêu chuẩn vệ sinh nước, vệ sinh môi trường, nhất là ở những bể bơi công cộng.

Khi chăm sóc bệnh nhân bị nhiễm bệnh thì cần chủ động bảo vệ bản thân bằng cách đeo khẩu trang, không sử dụng chung đồ với người bệnh và thực hiện sát khuẩn thường xuyên.

Hiện nay đã điều chế được vắc-xin chống lại một số loại adenovirus (loại huyết thanh 4 và 7) do Cơ quan Quản lý Thực phẩm Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã phê chuẩn.

NGUỒN THAM KHẢO: Tổng hợp

error: Nội dung đã được bảo vệ !!