Sốc

Sốc là một biểu hiện của cơ thể, là dấu hiệu của tình trạng suy tuần hoàn đe dọa tính mạng. Sốc tuần hoàn dẫn đến tình trạng thiếu oxy tế bào và mô dẫn đến chết tế bào và rối loạn chức năng của các cơ quan quan trọng. Sốc có thể được điều trị khỏi nếu phát hiện sớm ở giai đoạn đầu, nếu chậm trễ sẽ dẫn đến suy đa cơ quan và tử vong.

Tìm hiểu chung

Sốc là gì?

Đặc trưng của sốc là việc giảm cung cấp oxy, oxy không đủ dẫn đến tình trạng thiếu oxy tế bào và mô. Đây là tình trạng suy tuần hoàn đe dọa tính mạng và biểu hiện phổ biến nhất là hạ huyết áp (huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg hoặc huyết áp tâm trương dưới 65 mmHg). Sốc là biểu hiện giai đoạn cuối của một số nguyên nhân phức tạp và có thể gây tử vong nếu không được xử trí kịp thời.

Tình trạng thiếu oxy ở tế bào gây ra một loạt các thay đổi sinh lý và sinh hóa trong cơ thể, dẫn đến nhiễm toan và giảm lưu lượng máu cục bộ. Trong sốc giảm thể tích, sốc tắc nghẽn và sốc tim, cung lượng tim giảm và vận chuyển oxy giảm. Trong sốc do giãn mạch ngoại biên (sốc phân bố), sức cản mạch máu ngoại biên giảm và khả năng cung cấp oxy bất thường. Nói chung, sốc có ba giai đoạn sau:

  • Tiền sốc hoặc sốc còn bù: Giai đoạn này được đặc trưng bởi các cơ chế bù trừ để chống lại sự giảm tưới máu mô, bao gồm nhịp tim nhanh, co mạch ngoại biên và thay đổi huyết áp hệ thống.
  • Sốc: Trong giai đoạn này, hầu hết các dấu hiệu và triệu chứng kinh điển của sốc xuất hiện do rối loạn chức năng cơ quan, do sự tiến triển của giai đoạn tiền sốc khi cơ chế bù trừ trở nên không đủ.
  • Rối loạn chức năng cơ quan đích: Đây là giai đoạn cuối, dẫn đến rối loạn chức năng cơ quan không thể phục hồi, suy đa cơ quan và tử vong.

Những dấu hiệu và triệu chứng của sốc

Đặc điểm và triệu chứng lâm sàng có thể khác nhau tùy theo loại và giai đoạn sốc. Các đặc điểm bao gồm:

  • Hạ huyết áp, nhịp tim nhanh, thở nhanh, mất ý thức hoặc trạng thái tinh thần bất thường, tứ chi lạnh, ẩm ướt, da lốm đốm, thiểu niệu, nhiễm toan chuyển hóa và tăng lactat máu.
  • Bệnh nhân bị sốc giảm thể tích có thể có các đặc điểm chung như đã nêu ở trên, cũng như có biểu hiện hạ huyết áp thế đứng, xanh xao, tĩnh mạch cổ phẳng, có thể có di chứng của bệnh gan mạn tính (trong trường hợp xuất huyết do giãn tĩnh mạch).
  • Bệnh nhân bị sốc nhiễm trùng có thể xuất hiện các triệu chứng gợi ý nhiễm trùng (ví dụ viêm mô tế bào, nhiễm trùng mô mềm hoại tử) và các biểu hiện ở da của viêm nội tâm mạc nhiễm trùng.
  • Bệnh nhân bị sốc phản vệ có thể bị hạ huyết áp, đỏ bừng mặt, thở nhanh, khàn giọng, phù miệng và mặt, nổi mề đay, thở khò khè, thở rít khi hít vào và có tiền sử tiếp xúc với các chất gây dị ứng thông thường như thuốc hoặc thực phẩm mà bệnh nhân bị dị ứng hoặc côn trùng đốt.
  • Ở bệnh nhân bị sốc không rõ nguyên nhân, các dấu hiệu chẩn đoán của chèn ép màng ngoài tim là nguyên nhân bao gồm khó thở, bộ ba Beck (áp lực tĩnh mạch cảnh tăng, tiếng tim nghèn nghẹt, hạ huyết áp), mạch nghịch và các yếu tố nguy cơ đã biết như chấn thương, tiền sử bệnh màng ngoài tim gần đây, tràn dịch và các thủ thuật lồng ngực.
  • Sốc tim thường có đau ngực gợi ý nguồn gốc từ tim, huyết áp hẹp, nhịp tĩnh mạch cảnh tăng hoặc rale phổi và rối loạn nhịp tim đáng kể.

Khi nào cần gặp bác sĩ?

Nếu có bất kỳ triệu chứng nào nêu trên xảy ra, bạn nên liên hệ ngay với bác sĩ để được kiểm tra và tư vấn. Chẩn đoán và điều trị sớm sẽ giảm nguy cơ tăng nặng của bệnh và giúp bạn mau chóng hồi phục sức khỏe.

Nguyên nhân

Nguyên nhân dẫn đến sốc

Chủ yếu có bốn loại sốc: Sốc do giãn mạch ngoại biên (sốc phân bố), sốc giảm thể tích, sốc tim và sốc tắc nghẽn. Bên cạnh đó, sốc không phân biệt được có nghĩa là chẩn đoán sốc đã được thực hiện; tuy nhiên, nguyên nhân cơ bản vẫn chưa được phát hiện và gọi là sốc chưa rõ nguyên nhân.

Sốc do giãn mạch ngoại biên (sốc phân bố)

Các loại sốc này bao gồm:

  • Sốc nhiễm trùng: Nhiễm trùng huyết được hiểu là tình trạng rối loạn chức năng cơ quan đe dọa tính mạng do rối loạn điều hòa phản ứng của cơ thể đối với sự nhiễm trùng. Sốc nhiễm trùng là một phần của nhiễm trùng huyết với các bất thường nghiêm trọng về tuần hoàn, tế bào và chuyển hóa dẫn đến giảm tưới máu mô biểu hiện là hạ huyết áp, cần điều trị bằng thuốc vận mạch và tăng nồng độ lactate (hơn 2 mmol/L). Nguyên nhân dẫn đến sốc nhiễm trùng là cơ thể bị nhiễm vi khuẩn như vi khuẩn gram dương, gram âm, viêm phổi do liên cầu khuẩn, Enterococcus…
  • Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống: Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (SIRS) là một hội chứng lâm sàng của phản ứng viêm mạnh do nguyên nhân nhiễm trùng hoặc không nhiễm trùng. Các nguyên nhân truyền nhiễm bao gồm các mầm bệnh như vi khuẩn gram dương (phổ biến nhất) và gram âm, nấm, nhiễm virus (ví dụ virus đường hô hấp), ký sinh trùng (ví dụ sốt rét). Các nguyên nhân không nhiễm trùng của SIRS bao gồm viêm tụy, bỏng, tắc mạch mỡ, tắc mạch không khí và tắc mạch nước ối…
  • Sốc phản vệ: Sốc phản vệ là hội chứng lâm sàng của phản ứng quá mẫn nặng qua trung gian immunoglobulin E (Ig-E), dẫn đến trụy tim mạch và suy hô hấp do co thắt phế quản. Phản ứng quá mẫn ngay lập tức có thể xảy ra trong vòng vài giây đến vài phút sau khi xuất hiện kháng nguyên kích động. Các chất gây dị ứng phổ biến bao gồm thuốc (ví dụ như kháng sinh, NSAID), thức ăn, vết côn trùng đốt và mủ cao su.
  • Sốc thần kinh: Sốc thần kinh có thể xảy ra do chấn thương tủy sống hoặc não. Cơ chế cơ bản là giảm sức cản mạch máu và thay đổi trương lực phế vị.
  • Sốc nội tiết: Do các nguyên nhân nội tiết tiềm ẩn như suy thượng thận (bệnh lý Addison) và phù niêm.

Sốc giảm thể tích

Sốc giảm thể tích được đặc trưng bởi giảm thể tích nội mạch và tăng thể tích tĩnh mạch hệ thống (cơ chế bù trừ để duy trì tưới máu trong giai đoạn đầu của sốc). Ở giai đoạn sau của sốc do giảm thể tích dần dần, cung lượng tim cũng giảm và biểu hiện là hạ huyết áp. Sốc giảm thể tích được chia thành hai loại lớn: Xuất huyết và không xuất huyết.

Các nguyên nhân phổ biến gây sốc giảm thể tích xuất huyết bao gồm:

  • Chảy máu tiêu hóa (xuất huyết cả đường tiêu hóa trên và dưới, ví dụ chảy máu do giãn tĩnh mạch, chảy máu dạ dày do tăng huyết áp cửa, loét dạ dày tá tràng, bệnh túi thừa)… Nguyên nhân mạch máu (ví dụ, rò động mạch chủ, vỡ phình động mạch chủ bụng, khối u ăn mòn vào mạch máu lớn).
  • Chảy máu tự phát khi sử dụng thuốc chống đông máu.

Các nguyên nhân phổ biến của sốc giảm thể tích không xuất huyết bao gồm:

  • Mất 1 phần dạ dày/ruột: Gây nôn mửa, tiêu chảy…
  • Mất thận, tình trạng lợi tiểu do thuốc, rối loạn nội tiết như giảm aldosteron.
  • Mất da, bệnh lý da-mô mềm: Bỏng, hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử biểu bì nhiễm độc, say nắng, sốt.
  • Mất nội tạng như viêm tụy, xơ gan, tắc ruột, chấn thương.

Sốc tim

Nguyên nhân sốc tim là do giảm cung lượng tim và giảm tưới máu hệ thống. Các loại nguyên nhân khác nhau góp phần gây sốc tim bao gồm:

  • Bệnh cơ tim, bao gồm nhồi máu cơ tim cấp tính ảnh hưởng đến hơn 40% tâm thất trái, nhồi máu cơ tim cấp tính trong bệnh động mạch vành, nhồi máu cơ tim thất phải, bệnh cơ tim giãn nở tối cấp, ngừng tim (do cơ tim choáng váng), viêm cơ tim.
  • Rối loạn nhịp tim: Cả nhịp tim nhanh và nhịp tim chậm
  • Suy động mạch chủ nặng, suy van hai lá nặng hoặc chấn thương dây chằng do vỡ phình động mạch thành tự do tâm thất.

Sốc tắc nghẽn

Chủ yếu do nguyên nhân ngoài tim dẫn đến giảm cung lượng tim thất trái:

  • Mạch máu phổi: Do lưu lượng máu từ tim phải sang tim trái bị suy giảm bao gồm thuyên tắc phổi có ý nghĩa về mặt huyết động, tăng huyết áp phổi nặng.
  • Suy giảm chức năng của tim phải hoặc do giảm lượng máu tĩnh mạch trở về tim phải do bị chèn ép từ bên ngoài. Ví dụ bao gồm tràn khí màng phổi căng thẳng, chèn ép màng ngoài tim, bệnh cơ tim hạn chế, viêm màng ngoài tim co thắt.

Nguy cơ

Những ai có nguy cơ mắc phải sốc?

Những người có bệnh lý đái tháo đường, bị nhiễm trùng không điều trị, hoặc những người có nhiễm trùng nặng là đối tượng dễ bị sốc nhất.

Yếu tố làm tăng nguy cơ mắc phải sốc

Một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc sốc, bao gồm:

  • Nhiễm trùng;
  • Bệnh tim mạch.

Phương Pháp Chẩn Đoán & Điều Trị

Phương pháp xét nghiệm và chẩn đoán sốc

Để đánh giá sốc, cần hỏi bệnh sử và khám thực thể. Ngoài ra cần làm thêm các xét nghiệm như:

  • Xét nghiệm máu: Công thức máu, chức năng thận và gan, nồng độ lactate huyết thanh, dấu ấn sinh học tim, nồng độ D-dimer, chỉ số đông máu, loại và sàng lọc khả năng truyền máu thích hợp (nếu lo ngại về sốc xuất huyết).
  • Xét nghiệm vi sinh: Cấy máu, nước tiểu, dịch…
  • Phân tích khí máu động mạch.
  • Chẩn đoán hình ảnh: X-quang ngực, chụp CT, MRI.
  • Đo điện tim: Điện tâm đồ có thể cho thấy bằng chứng của hội chứng mạch vành cấp tính, rối loạn nhịp tim hoặc cung cấp manh mối chẩn đoán gợi ý tràn dịch màng ngoài tim hoặc tắc mạch phổi.

Phương pháp điều trị sốc hiệu quả

Cách tiếp cận ban đầu để xử trí là ổn định đường thở và cung cấp oxy đầy đủ (oxy mask, oxy qua cannula, nội khí quản…). Nên bắt đầu điều trị ngay lập tức bằng dịch truyền tĩnh mạch (IV), sau đó dùng thuốc vận mạch, nếu cần, để duy trì tưới máu mô. Tùy thuộc vào nguyên nhân cơ bản của sốc, các liệu pháp điều trị cụ thể có thể khác nhau.

  • Sốc nhiễm trùng: Hồi sức tích cực ban đầu bằng dịch truyền với dịch tinh thể đẳng trương IV 30 mL/kg trong vòng 3 giờ với dịch bổ sung dựa trên việc đánh giá lại thường xuyên, điều trị bằng kháng sinh theo kinh nghiệm trong vòng một giờ. Đối với những bệnh nhân bị sốc nhiễm trùng, cần dùng thuốc vận mạch, hãy nhắm mục tiêu huyết áp trung bình (MAP) là 65 mmHg. Lựa chọn đầu tiên của thuốc vận mạch là norepinephrine, có thể bổ sung vasopressin nếu kháng trị.
  • Sốc phản vệ: Hồi sức tích cực bằng dịch truyền IV với 4 đến 6 L dịch tinh thể IV. Ngừng thuốc gây nghiện, epinephrine tiêm bắp, thuốc kháng histamine, corticosteroid, albuterol khí dung.
  • Trong suy thượng thận: Hồi sức bằng dịch truyền thận trọng, tiêm tĩnh mạch dexamethasone.
  • Sốc giảm thể tích: Hồi sức tích cực bằng dịch truyền tĩnh mạch với 2 đến 4 L dịch tinh thể đẳng trương. Truyền PRBC nếu chảy máu liên tục. Tiếp tục truyền dịch tinh thể đẳng trương và sử dụng thuốc vận mạch nếu cần
  • Sốc tắc nghẽn: Sử dụng hợp lý dịch tinh thể. Nếu sốc vẫn tiếp tục, bắt đầu dùng thuốc vận mạch norepinephrine sớm là lựa chọn đầu tiên và thêm vasopressin nếu kháng trị. Tiếp tục truyền dịch IV nhưng theo dõi rất chặt chẽ.
  • Nếu thuyên tắc phổi cấp tính nghiêm trọng: Sử dụng thuốc ly giải huyết khối.
  • Sốc tim: Nếu nhịp tim nhanh hoặc nhịp tim chậm không ổn định, hãy bắt đầu phác đồ ACLS và chuyển nhịp. Sử dụng hợp lý dịch truyền tĩnh mạch khi không có phù phổi. Xem xét dùng thuốc tăng co bóp (dobutamine là thuốc được sử dụng phổ biến nhất) hoặc bơm bóng trong động mạch chủ (IABP), nếu sốc kháng trị và thuốc vận mạch (norepinephrine) với thuốc tăng co bóp.

Chế Độ Sinh Hoạt & Phòng Ngừa

Những thói quen sinh hoạt có thể giúp bạn hạn chế diễn tiến của sốc

Chế độ sinh hoạt:

  • Bệnh nhân nên đi thăm khám định kỳ để điều trị các bệnh lý mạn tính (nếu có).
  • Nếu bệnh nhân có bệnh đái tháo đường, nguy cơ nhiễm trùng và bệnh nhiễm trùng da-mô mềm có nguy cơ tiến triển rất nhanh, do đó nên đến cơ sở y tế điều trị nếu có dấu hiệu nhiễm trùng nhẹ.
  • Bệnh nhân nên có tâm lý lạc quan, tích cực và hợp tác điều trị để ngăn ngừa kịp thời diễn tiến sốc.

Chế độ dinh dưỡng: Bổ sung đầy đủ dinh dưỡng.

Phương pháp phòng ngừa sốc hiệu quả

Sốc là triệu chứng nặng của một bệnh lý nào đó, do đó nên đi thăm khám bệnh định kỳ để phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

Nguồn tham khảo

  1. Shock: https://www.msdmanuals.com/professional/critical-care-medicine/shock-and-fluid-resuscitation/shock
  2. Shock: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK531492/
  3. Shock: https://medlineplus.gov/ency/article/000039.htm
  4. What You Should Know About Shock: https://www.healthline.com/health/shock
  5. What Is Shock?: https://www.verywellhealth.com/types-of-shock-4018329