Bệnh lao ruột

Lao ruột là một nhiễm khuẩn đường tiêu hóa đặc hiệu gây ra do trực khuẩn lao có thể gây biến chứng như tắc ruột, viêm phúc mạc, xuất huyết tiêu hóa nặng. Bệnh chiếm 1 đến 3% tổng số ca lao trên toàn thế giới. Trong đó, vùng hồi tràng là vùng thường bị ảnh hưởng nhất. Vậy nguyên nhân bệnh lao ruột là gì và biến chứng bệnh nguy hiểm như thế nào?

Tìm hiểu chung

Bệnh lao ruột là gì? 

Lao ngoài phổi chiếm khoảng 12% tổng số ca lao, trong đó lao đường tiêu hóa chiếm 11% đến 16% số ca mắc bệnh. 6% đến 38% bệnh nhân mắc lao trong ổ bụng cũng có thể mắc đồng thời lao phổi.

Một số nghiên cứu đã báo cáo về tỷ lệ mắc bệnh lao ruột ở phụ nữ. Tuy nhiên, các nghiên cứu khác đã báo cáo xu hướng giới tính bình đẳng. Điều thú vị là một số nghiên cứu về bệnh lao ngoài phổi cho thấy sự ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa và dân tộc trong các cộng đồng khác nhau.

Có mối liên quan không rõ ràng giữa bệnh lao ruột với tuổi của bệnh nhân. Một nghiên cứu báo cáo rằng bệnh nhân trung niên (nhóm tuổi sinh sản) thường bị ảnh hưởng nhất. Trong khi, trong các nghiên cứu khác, bệnh nhân ở nhóm tuổi trẻ hơn (dưới 25 tuổi) có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn. Một số nghiên cứu cho thấy sự phân bố tuổi tác bằng nhau, điều này được cho là do tỷ lệ mắc bệnh tương đồng cao, dẫn đến tình trạng miễn dịch nói chung bị giảm giữa các nhóm tuổi.

Bệnh lao ruột thường thấy ở những dân số có tình trạng kinh tế xã hội thấp hơn. Nó cũng được thấy với nhiễm vi rút suy giảm miễn dịch ở người (HIV) và hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS). Đồng nhiễm lao là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở bệnh nhân HIV/ AIDS.

Triệu chứng

Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh lao ruột

Bệnh nhân mắc bệnh lao ruột thường có những biểu hiện sau:

  • Toàn thân: Chán ăn, giảm cân, sốt về chiều, ra mồ hôi trộm, buồn nôn và ói mửa, xanh xao và thiếu máu.
  • Tiêu chảy ngày 2 – 3 lần, phân lỏng hoặc sền sệt, có mùi hôi thối. Tiêu chảy kéo dài; có thể xen kẽ tiêu chảy với táo bón, có khi khỏi vài ngày lại tái phát.
  • Đau bụng âm ỉ, không có vị trí cố định, có sôi bụng kèm theo.

Tuy nhiên ở giai đoạn đầu, một số bệnh nhân có thể không biểu hiện bất kỳ triệu chứng nào của bệnh lao ruột. Ở giai đoạn bệnh phát triển nặng hơn, có thể xuất hiện các thể bệnh sau:

Thể loét tiểu tràng, đại tràng:

  • Bụng hơi to, có nhiều hơi, sờ bụng không thấy gì đặc biệt;
  • Đau bụng nhiều, sốt cao, tình trạng tiêu chảy phân lỏng kéo dài;
  • Phân lỏng, màu vàng, có mùi hôi thối, và có thể chứa mủ, nhầy hoặc máu;
  • Cơ thể suy kiệt nhanh, xanh xao, mệt mỏi, không có cảm giác thèm ăn.

Thể to – hồi manh tràng:

  • Tiêu chảy và táo bón xuất hiện xen kẽ nhau;
  • Phân có thể kèm theo máu, mủ hoặc chất nhầy;
  • Nôn mửa và đau bụng;
  • Khám hố chậu thấy u mềm, ấn đau và ít di động.

Thể hẹp ruột:

  • Đau bụng nhiều hơn sau khi ăn;
  • Ổ bụng xuất hiện các u cục nổi lên và có dấu hiệu rắn bò.

Biến chứng có thể gặp khi mắc bệnh lao ruột

Biến chứng tắc ruột: Đây là biến chứng phổ biến nhất. Theo Sharma M.P và Makanjuola D, biến chứng tắc ruột chiếm tỷ lệ từ 20% đến trên 40% các trường hợp lao ruột. Ở Ấn Độ, nơi tỷ lệ bệnh nhân mắc lao cao trên thế giới, tắc ruột do lao chiếm tới 20% tắc ruột nói chung.

Biến chứng viêm phúc mạc: Bệnh xuất hiện sau quá trình đau âm ỉ kéo dài, cũng có khi biểu hiện cấp tính nên dễ nhầm với viêm phúc mạc do viêm ruột thừa, thủng dạ dày. Viêm phúc mạc xảy ra do nguyên nhân thủng ruột hoặc có thể từ hoại tử hạch mạc treo. Theo Tahir I, viêm phúc mạc chiếm 20% bệnh lao ruột, Ở Ấn Độ, viêm phúc mạc do lao chiếm tới 9% các loại viêm phúc mạc.

Biến chứng xuất huyết tiêu hóa trên và dưới.

Biến chứng rò: Biểu hiện của biến chứng rò chủ yếu dưới 3 dạng: Rò ra ngoài, rò vào tạng lân cận và rò đường tiêu hóa.

  • Rò ra ngoài: Mủ, dịch tiêu hóa rò ra ngoài ở các vị trí hay gặp là thành bụng, lưng.
  • Rò vào tạng lân cận: Sàng bàng quang, âm đạo.
  • Rò vào đường tiêu hóa: Dò đại tràng – tá tràng.

Suy dinh dưỡng, kém hấp thu, sụt cân, thiếu các vitamin và khoáng chất cần thiết: Nguyên nhân gây ra tình trạng ruột kém hấp thu do ruột giảm nhu động gây nên hội chứng ứ đọng kéo dài. Ngoài ra cũng do quá trình loét tiến triển làm cho bề mặt ruột giảm chức năng hấp thu.

Bệnh viêm đa dây thần kinh do viêm mãn tính đã được báo cáo trong một số trường hợp.

Giống như các dạng bệnh lao khác, có một mối lo ngại về sự xuất hiện của nhiễm trùng lao đa kháng thuốc trong ổ bụng. Một nghiên cứu ở Đài Loan báo cáo tỷ lệ mắc lao đa kháng thuốc ở 13% bệnh nhân lao ruột. Tuy nhiên, một phần lớn trong số họ cũng mắc đồng thời lao phổi.

Khi nào cần gặp bác sĩ?

Khi thấy cơ thể xuất hiện những triệu chứng trên, bạn nên liên hệ ngay với bác sĩ để được kiểm tra và tư vấn. Mỗi người có một cơ địa khác nhau, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ để có phương án điều trị thích hợp. Chẩn đoán và điều trị sớm sẽ giảm nguy cơ tăng nặng của bệnh và giúp bạn mau chóng hồi phục sức khỏe.

Nguyên nhân

Nguyên nhân dẫn đến bệnh lao ruột

Sự lây nhiễm bệnh lao ruột gây ra bởi vi khuẩn Mycobacteria có thể xảy ra theo các cách sau:

  • Bệnh nhân mắc bệnh phổi hoạt động do Mycobacterium tuberculosis nuốt phải đờm.
  • Bạch huyết lây lan qua các nút bị nhiễm trùng.
  • Nuốt phải các sản phẩm sữa bị nhiễm Mycobacterium bovis – đặc biệt được thấy khi tiêu thụ sữa tươi.

Nguy cơ

Những ai có nguy cơ mắc phải bệnh lao ruột

Lao ruột thường xuất hiện ở người trong độ tuổi lao động, nhất là ở độ tuổi từ 30 – 55.

Yếu tố làm tăng nguy cơ mắc phải bệnh lao ruột

Có rất nhiều yếu tố có thể khiến tăng nguy cơ mắc bệnh này, như:

  • Nhiễm HIV/AIDS dẫn đến hệ miễn dịch bị suy giảm.
  • Đái tháo đường.
  • Cơ thể suy nhược, ốm yếu, trọng lượng cơ thể thấp.
  • Mắc bệnh ung thư đầu cổ, bệnh bạch cầu, bệnh Hodgkin.
  • Nhiễm bụi phổi silic.
  • Một số phương pháp chữa trị dẫn đến hệ miễn dịch bị suy yếu như sử dụng corticosteroid, sử dụng thuốc cho các bệnh tự miễn hoặc viêm mạch như viêm khớp dạng thấp.

Phương Pháp Chẩn Đoán & Điều Trị

Phương pháp xét nghiệm và chẩn đoán bệnh lao ruột

Để chẩn đoán bệnh lao ruột, bác sĩ có thể yêu cầu làm các xét nghiệm cận lâm sàng sau:

  • Chụp X-quang: Chụp X-quang ngực có thể giúp phát hiện được bệnh lao.
  • Siêu âm.
  • Chụp CT: Chụp CT có thể hữu ích trong việc loại trừ khả năng có sự hiện diện của khối u và giúp bác sĩ quan sát phản ứng của bệnh trong thời gian hóa trị.
  • Nội soi bằng ống mềm có thể thấy: Các hạt lao như những hạt kê màu trắng rải rác trên niêm mạc.
  • Chụp Galium citrate giúp phát hiện viêm thanh mạc và viêm phúc mạc.
  • Thụt tháo bằng barium và uống barium.
  • Kháng thể huyết thanh có thể được phát hiện bởi các enzyme liên kết khảo nghiệm miễn dịch hoặc bằng xét nghiệm kháng thể huỳnh quang hòa tan kháng nguyên.
  • Xét nghiệm máu: Tình trạng thiếu máu kèm theo tế bào lympho và hàm lượng hồng cầu tăng cao có thể là dấu hiệu của bệnh lao ruột.
  • Phản ứng mantoux dương tính mạnh.
  • Tìm trực khuẩn lao trong phân: Chỉ có ý nghĩa là lao ruột khi thấy trực khuẩn lao trong phân, nhưng không thấy trực khuẩn lao trong đờm.

Phương pháp điều trị bệnh lao ruột

Điều trị nội khoa

Thuốc điều trị nguyên nhân (diệt vi khuẩn lao) cần phải phối hợp 2 hoặc 3 trong các loại thuốc sau: Rifamixin, Ethambutol, INH, Streptomycin. Thời gian điều trị tấn công từ 2 đến 5 tháng, điều trị củng cố từ 12 đến 18 tháng.

Thuốc điều trị triệu chứng:

  • Chống đau bụng: Atropin hoặc Belladol (cồn dung dịch 10%).
  • Băng xe niêm mạc, chống tiêu chảy: Tanin hoặc Kaolin.

Điều trị ngoại khoa

Các biến chứng như thủng, tắc ruột, viêm phúc mạc có thể được điều trị phẫu thuật bảo tồn. Sau khi phẫu thuật, bác sĩ sẽ tiếp tục cho sử dụng hóa trị (isoniazid và rifampin) trong 18 tháng.

Bệnh lao đường tiêu hóa đặt ra một thách thức chẩn đoán vì nó thường biểu hiện với các đặc điểm lâm sàng và X quang không đặc hiệu. Việc chẩn đoán thường bị trì hoãn do biểu hiện mơ hồ dẫn đến nhiều biến chứng khác nhau.

Các triệu chứng lâm sàng và các xét nghiệm cận lâm sàng có thể hỗ trợ chẩn đoán sớm, do đó làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong liên quan đến bệnh lao ru. Liệu pháp kháng lao là phương pháp điều trị chính, chỉ cần phẫu thuật trong một số ít trường hợp.

Chế Độ Sinh Hoạt & Phòng Ngừa

Những thói quen sinh hoạt có thể giúp hạn chế diễn tiến của bệnh lao ruột

  • Tuân thủ các hướng dẫn điều trị của bác sĩ. Đây là một bệnh nguy hiểm, có thời gian điều trị lâu dài nên bạn cần phải kiên trì để theo dõi. Nếu bạn ngừng dùng một số loại thuốc hoặc bỏ qua một số liều thì sẽ có nguy cơ cao mắc bệnh lao kháng thuốc khó điều trị.
  • Dùng thuốc theo đúng liều lượng, không nên tự ý ngưng dùng thuốc khi chưa có sự đồng ý của bác sĩ.
  • Cần phải có chế độ ăn dinh dưỡng và hợp lý, ăn đủ chất, nhất là đạm, vitamin.
  • Không nên ăn nhiều thức ăn dạng bột.
  • Những người mắc bệnh lao nên nghỉ ngơi ở nhà cho đến khi bác sĩ đồng ý cho quay lại cuộc sống bình thường để tránh lây nhiễm cho người khác, có thể là vài tuần (điều trị sẽ tiếp tục trong vài tháng).

Phương pháp phòng ngừa bệnh lao ruột

Để phòng ngừa bệnh lao ruột cũng như hạn chế nguy cơ tái phát, cần chú ý:

  • Có ý thức trong vệ sinh ăn uống, sinh hoạt.
  • Vi khuẩn lao có thể lây qua đường không khí nên rất dễ truyền bệnh cho những người xung quanh. Bạn nên đeo khẩu trang, vứt những vật dụng cá nhân bỏ vào một túi riêng và nên ở trong môi trường thông thoáng, không tạo điều kiện cho vi khuẩn phát sinh.
  • Không sử dụng sữa bò tươi, các chế phẩm từ bò sữa nếu chưa qua quy trình xử lý.

Nguồn tham khảo

  1. Bệnh nội khoa – Bệnh viện Bạch Mai, Cẩm nang nghiệp vụ của Bác sĩ lâm sàng
  2. https://www.cureus.com/articles/45577-intestinal-tuberculosis-a-diagnostic-challenge
  3. https://www.msdmanuals.com/
  4. https://www-ncbi-nlm-nih-gov.translate.goog/
image chat

Xem trực tiếp XoilacTV hôm nay